BULLS 'N BEARS

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

Phân tích kỹ thuật




Phân tích kỹ thuật là một kỹ thuật được dùng để dự báo hướng giá trong tương lai thông qua việc nghiên cứu dữ liệu lịch sử của thị trường, chủ yếu là giá, khối lượng giao dịch và lãi suất mở.
Các nhà kinh doanh kỹ thuật dùng thông tin giao dịch (như giá trước đó và khối lượng giao dịch) cùng với các chỉ báo toán học để quyết định. Thông tin này thường được hiển thị trên một biểu đồ được cập nhật trong thời gian thực và được diễn giải để xác định khi nào là thời điểm mua và khi nào bán một công cụ nhất định.

Lý thuyết Dow

Ý tưởng của Charles Dow, tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí Wall Street, đã tạo thành cơ sở của phân tích kỹ thuật hiện đại. Những ý tưởng đó dựa trên ba nền tảng chính:
  1. Giá là một sự phản ánh tổng thể tất cả các động lực thị trường. Ở bất kì thời điểm nào, tất cả động lực và thông tin thị trường được phản ánh qua giá.
  2. Giá vận động theo những xu hướng có thể xác định và được biến thành những cơ hội lợi nhuận.
  3. Sự vận động của giá thường lặp đi lặp lại.
  • Ưu thế của Phân tích Kỹ thuật
    Nó đòi hỏi ít dữ liệu hơn nhiều so với phân tích cơ bản . Từ giá và khối lượng giao dịch, một nhà kinh doanh kỹ thuật có thể lấy được thông tin anh ta cần.
    Vì nó tập trung vào việc xác định sự đảo chiều của xu hướng, câu hỏi về thời điểm để bắt đầu một giao dịch sẽ dễ trả lời hơn khi có phân tích kỹ thuật.
  • Yếu điểm của Phân tích Kỹ thuật
    Phân tích Kỹ thuật có thể là một lời tiên tri tự nó sẽ hoàn tất. Khi nhiều nhà đầu tư sử dụng các công cụ giống nhau và đi theo các khái niệm giống nhau, dịch chuyển cung cầu với nhau, điều này có thể dẫn đến giá vận động theo hướng đã tiên đoán.

Phân tích Kỹ thuật và/hoặc Cơ bản

Phân tích Kỹ thuật là một trong những công cụ quan trọng nhất để dự báo hoạt động của thị trường tài chính. Nó đã chứng tỏ nó là một công cụ hiệu quả dành cho nhà đầu tư và thường được các thành phần tham gia thị trường chấp  nhận hơn. Khi được dùng với phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật có thể cho sự định giá hoàn chỉnh hơn, và tạo sự khác biệt khi thực hiện các giao dịch có khả năng sinh lợi.
CÁC CHỈ BÁO KỸ THUẬT
Xu hướng là khái niệm quan trọng nhất trong phân tích kỹ thuật. Một xu hướng cho thấy hướng chung của sự vận động thị trường. Việc xác định xu hướng là quan trọng để bạn có thể kinh doanh cùng với chúng hơn là đi ngược lại chúng.

Các loại Xu hướng

Một xu hướng có thể:
  • Đi lên - đây gọi là một cuộc chạy đua ; một thị trường có xu hướng đi lên
  • Đi xuống - đây gọi là một xu hướng giá xuống ; thị trường có xu hướng đi xuống
  • Đi theo hướng ngang/Nằm ngang - đây gọi là "thị trường phẳng" hoặc "không có xu hướng" ; thị trường này không đi theo hướng nào.

Độ dài của xu hướng

Một xu hướng ở bất cứ hướng nào đều có thể được phân loại theo độ dài của nó
  • Xu hướng ngắn hạn ; nó thường kéo dài không quá ba tuần
  • Xu hướng trung hạn ; nó thường kéo dài khoảng từ 3 tuần đến nhiều tháng
  • Xu hướng dài hạn hoặc Xu hướng chính ; nó thường được cho là kéo dài trong một năm hoặc dài hơn. Nó được tạo thành từ nhiều xu hướng trung hạn thường di chuyển ngược Xu hướng chính

Đường xu hướng

Một đường xu hướng là một kỹ thuật vẽ biểu đồ đơn giản gồm việc nối các mức cao quan trọng (các đỉnh) hoặc các mức thấp quan trọng (thấp) để thể hiện xu hướng trong thị trường. Các đường này được dùng để chỉ rõ xu hướng và cũng giúp xác định các đảo chiều của xu hướng.
Một đường xu hướng có thể được phân loại như sau:
  • Đường xu hướng tăng
  • Đường xu hướng giảm
  • Đường xu hướng nằm ngang

Ví dụ:

Trong biểu đồ bên dưới, bạn có thể thấy minh họa của một xu hướng tăng giá dài hạn trong cặp tiền tệ EURUSD, đi cùng với một đường xu hướng tăng.

Các kênh

Một kênh giá là sự cộng hai đường xu hướng song song hoạt động như các vùng hỗ trợ và đối kháng mạnh. Một đường nối một dãy các mức giá cao trong khi đường còn lại nối một dãy các mức giá thấp. Một kênh có thể đi lên, đi xuống hoặc nằm ngang. Nhà đầu tư dự kiến một cổ phiếu hoặc tiền tệ cụ thể giao dịch giữa hai đường hỗ trợ và đối kháng cho đến khi nó phá vỡ một trong hai đường đó. Họ dùng các đường kênh để chỉ ra thời điểm đặt "lệnh chốt lời" và "lệnh cắt lỗ".
Bạn có thể thấy trong biểu đồ bên dưới một kênh giá tăng của chỉ số S&P 500.

BIỂU ĐỒ
Một biểu đồ giá là một trình tự giá được biễu diễn theo một khung thời gian nhất định. Trên biểu đồ, trục thẳng đứng đại diện cho thang giá trong khi trục ngang đại diện cho thời gian.

Các đặc tính của biểu đồ

Khi nhìn vào một biểu đồ, có nhiều yếu tố mà bạn nên lưu ý vì chúng ảnh hưởng đến thông tin được cung cấp. Các yếu tố này bao gồm khung thời gian và thang giá được sử dụng.
  • Khung thời gian
    Mỗi cột, hình nến hoặc chấm trong biểu đồ chứa thông tin về khoảng thời gian tạm dừng (interval) đã được xác định. Độ dài của khoảng thời gian tạm dừng này chính là khoảng dừng của biểu đồ.
    Việc quyết định chọn khoảng dừng biểu đồ nào để sử dụng tùy thuộc vào kiểu kinh doanh và lĩnh vực đầu tư của bạn. Những người mua bán trong ngày (day trader) có thể dùng các khoảng dừng của biểu đồ ngắn 1 phút, trong khi đó các swinger (những nhà kinh doanh giữ món hàng đầu tư của mình từ nhiều ngày cho đến vài tuần lễ) thường dùng nhiều khoảng dừng dao động từ nhiều giờ cho đến một ngày.

  • Thang giá  
    Có hai phương pháp thể hiện thang giá dọc theo trục y: phương pháp số học vào phương pháp logarit.
    Trên một thang giá số học, mỗi điểm giá được tách biệt bởi cùng một khoảng cách theo chiều thẳng đứng cho dù giá có đang ở mức nào đi nữa. Mỗi đơn vị đo là giống nhau trong toàn bộ thang giá. Nếu một cổ phiếu tăng từ 10 lên 100 trong thời gian 6 tháng, sự dịch chuyển từ 10 đến 20 (+100% dao động) sẽ theo khoảng cách giống khoảng dịch chuyển từ 90 lên100 (+11% dao động). Ngay cả khi sự vận động này là giống nhau về số hạng tuyệt đối, nó lại không giống nhau về phần trăm.
    Trên một thang giá logarit, mỗi điểm giá được tách biệt bởi một khoảng cách theo chiều thẳng đứng bằng nhau về phần trăm. Việc tăng từ10 lên 20 sẽ đại diện cho một sự gia tăng 100%. Việc tăng từ 20 lên 40 cũng sẽ là 100%, cũng giống như khi giá tăng từ 40 lên 80. Cả ba sự tăng giá này đều có cùng khoảng cách theo chiều thẳng đứng giống nhau theo một thang logarit.

Các loại biểu đồ

Có ba loại biểu đồ chính được các nhà kinh doanh sử dụng tùy thuộc vào thông tin họ đang tìm kiếm và cấp độ kĩ năng của mỗi người. Các loại biểu đồ là: biểu đồ tuyến, biểu đồ dạng cột và biểu đồ hình nến.
  • Biểu đồ tuyến
    DIỄN GIẢI: Biểu đồ tuyến là loại biểu đồ cơ bản nhất. Đường thể hiện trong biểu đồ kết nối nhiều giá riêng lẻ lại trong một khoảng thời gian đã chọn. Loại biểu đồ tuyến phổ biến nhất là biểu đồ thường nhật. Mặc dù bất kì điểm nào trong ngày đều có thể được biểu diễn trên biểu đồ, hầu hết các nhà kinh doanh tập trung vào giá lúc đóng cửa (closing price), giá mà họ xem là quan trọng nhất. Tuy nhiên điều này lại cho thấy ngay một vấn đề; sử dụng biểu đồ tuyến thường nhật thì không thể thấy được hoạt động của giá xảy ra vào thời gian còn lại trong ngày.
    LỢI ÍCH: Một biểu đồ tuyến cho người kinh doanh một ý tưởng khá tốt về vị trí mà giá của một tài sản di chuyển theo một khung thời gian bất kì.

  • Biểu đồ cột

    DIỄN GIẢI: Mỗi cột thẳng đứng đại diện cho một khoản thời gian của hoạt động giá từ chu kỳ đã chọn, có thể ngắn chỉ 1 phút đối với các biểu đồ trong ngày, hoặc dài khoảng nhiều năm đối với các biểu đồ lịch sử. Trên biểu đồ thường nhật, cột thẳng đứng đại diện cho giao dịch của một ngày và ở đó:
    + đỉnh của cột đại diện cho giá cao của thị trường
    + đáy cột đại diện cho giá thấp
    + dấu thập bên trái trên cột đại diện cho giá khi mở cửa
    + dấu thập bên phải trên cột đại diện cho giá khi đóng cửa
    LỢI ÍCH: Nhờ có thông tin về giá khi mở cửa, giá cao, thấp và giá khi đóng cửa, biểu đồ cột cho phép phân tích chi tiết hơn các biểu đồ tuyến tiêu chuẩn.

  • Biểu đồ hình nến

    DIỄN GIẢI: Biểu đồ hình nến liên quan mật thiết đến biểu đồ cột, vì nó cũng đại diện cho bốn giá chính: cao, thấp, mở cửa, đóng cửa. Mỗi hình nến đại diện cho khoảng thời gian mà bạn chọn. Các khoảng thời gian sau đây được các phần mềm biểu đồ khác nhau cung cấp: 1 phút, 15 phút, 30 phút, 1 giờ, 2 giờ, 4 giờ, 8 giờ, mỗi ngày, mỗi tuần và mỗi tháng.
    Đối với một biểu đồ thường nhật (mỗi ngày), mỗi hình nến đại diện cho vùng giao dịch của một ngày và được thể hiện là "mở" hoặc "đóng":
    + Một hình nến mở đại diện cho một giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa và có màu xanh dương.
    + Một hình nến đóng đại diện cho một giá đóng cửa thấp hơn giá mở cửa và có màu đỏ.
    Mỗi hình nến gồm hai thành phần, phần thân và phần bóng:
    + Phần thân là phần dày của hình nến đại diện cho giá mở cửa và đóng cửa
    + Đường mỏng phía trên và phía dưới thân là bóng đại diện cho các điểm cực (extreme) của giá trong chu kỳ. Bóng phía trên (bên trên thân) đo giá cao của chu kỳ và bóng phía dưới (bên dưới thân) đo giá thấp của chu kỳ.
    LỢI ÍCH: Biểu đồ hình nến là biểu đồ phổ biến nhất được sử dụng để phân tích kỹ thuật. Nhiều chiến lược kinh doanh đã lấy cơ sở là các dạng mô hình trong biểu đồ hình nến.

    HỖ TRỢ ĐỐI KHÁNG
    Hỗ trợ và Đối kháng là những đường minh họa sự giằng co giữa người mua (bull) và người bán (bear).
    • Các đường hỗ trợ báo hiệu giá mà phần lớn nhà đầu tư tin rằng sẽ lên cao hơn. Khi giá giảm đến đường hỗ trợ và giá rẻ hơn, người mua sẽ muốn mua hơn và người bán ít muốn bán hơn.
    • Các đường đối kháng báo hiệu giá mà phần lớn nhà đầu tư tin rằng sẽ xuống thấp hơn. Khi giá di chuyển đến đường đối kháng và giá cao hơn, người bán sẽ muốn mua hơn và người mua ít muốn bán hơn.
    Hãy xem biểu đồ bên dưới thể hiện đường hỗ trợ và đường đối kháng của cặp tiền tệ EUR/JPY.
    Với điều kiện là giá của chứng khoán di chuyển giữa đường hỗ trợ và đối kháng, xu hướng có thể sẽ tiếp tục. Một sự đột phá ra khỏi đường hỗ trợ hoặc đối kháng có thể là dấu hiệu của:
    • Một xu hướng tăng tốc
    • Một xu hướng đảo chiều
    Khi đường đối kháng bị phá vỡ, vai trò của nó bị đảo ngược và nó trở thành đường hỗ trợ. Tương tự, khi một đường hỗ trợ bị phá vỡ, đường này sẽ thành đường đối kháng.
    Bạn sẽ thấy trong biểu đồ bên dưới thể hiện sự tăng tốc trong xu hướng của cặp tiền tệ AUD/JPY khi một đường đối kháng trở thành đường hỗ trợ.
    Phân tích đường hỗ trợ và đối kháng được các nhà kinh doanh kỹ thuật dùng để ra các quyết định kinh doanh và xác định thời điểm một xu hướng tăng tốc hay đảo chiều. Lưu ý các đường quan trọng này có thể ảnh hưởng đến cách mà bạn kinh doanh và giúp bạn cải thiện đáng kể hoạt động kinh doanh của mình.

    MÔ HÌNH GIÁ TIẾP DIỄN
    Mô hình giá tiếp diễn cho thấy có một khoảng dừng trong xu hướng, báo hiệu hướng trước đó sẽ xuất hiện trở lại sau một khoảng thời gian. Chúng ta hãy cùng xem các mô hình sau: các kênh giá, tam giác cân và cờ & cờ hiệu.

    Các kênh giá

    Một kênh giá là một mô hình giá tiếp diễn được kết nối bởi một đường xu hướng và một đường hồi lưu. Một kênh giá có thể đi lên (mô hình tăng dần), xuống (mô hình xuống dần) hoặc không có gì cả (mô hình chữ nhật). Tùy thuộc vào hướng của kênh giá, mỗi đường có thể đóng vai trò hỗ trợ hoặc đối kháng.
    + Một kênh giá tăng dần được xem như có khuynh hướng tăng. Các nhà kinh doanh (Trader) sẽ mua khi giá chạm đến vùng hỗ trợ của đường xu hướng và chốt lời khi giá chạm đến vùng đối kháng của đường hồi lưu.

    + Kênh giá giảm dần được xem như có khuynh hướng giảm. Các nhà kinh doanh sẽ bán khi giá chạm đến vùng đối kháng của đường xu hướng và chốt lời khi giá chạm vùng hỗ trợ của đường hồi lưu.

    + Các mô hình hình chữ nhật thì không thuộc xu hướng mua vào hay bán ra, nhưng chỉ đơn giản cho thấy một sự ngưng lại trong xu hướng cơ sở.

    Để vẽ một kênh giá thuộc xu hướng tăng, cần có ít nhất hai giá higher-low và hai đường song song higher-high. Trái lại, để vẽ một kênh giá thuộc xu hướng giảm, cần có hai giá lower-high và hai đường song song, hoặc lower-low.
    Mặc dù các kênh giá thường được gọi là các mô hình giá tiếp diễn, cũng có vài ngoại lệ khi một xu hướng đảo chiều có thể xảy ra. Trong những trường hợp đó, giá thường không chạm được vào đường hồi lưu trước khi rơi vào một trạng thái có thể gọi là dấu hiệu của một sự đảo chiều sắp xảy ra.
    Các kênh giá cũng có các biểu hiện về định lượng. Một khi hoạt động của giá xuyên qua đường kênh, giá thường di chuyển ở một khoảng cách bằng với ít nhất là độ rộng của kênh.
    Vì phân tích kỹ thuật cũng chỉ như là một khoa học, nên sẽ có sự linh động. Ngay cả khi những lần tiếp xúc đường xu hướng chính xác là lý tưởng đi chăng nữa, còn tùy thuộc vào mỗi người khi phán đoán sự liên hệ và xác định vị trí của cả đường xu hướng và đường kênh. Với cùng dấu hiệu này, một đường kênh song song hoàn toàn với đường xu hướng chính là lý tưởng.

    Tam giác cân

    Tam giác cân là một mô hình giá tiếp diễn đã phát triển trên thị trường mà dường như không theo hướng nào. Mô hình này chứa ít nhất hai giá lower-high và hai giá higher-low trông như sắp tiếp xúc với nhau. Khi các đường nối những điểm này được nới rộng, chúng giao nhau và tạo thành một tam giác cân.
    Tam giác cân có cả biểu hiện đo lường và định thời gian. Khi mô hình hoàn tất, giá và lượng giảm trước khi cả hai yếu tố này đều vận động mạnh để vượt ra khỏi đường biên của tam giác. Khi chúng vượt ra, giá có khuynh hướng di chuyển ở một khoảng cách bằng với đáy tam giác hoặc nhiều hơn (xem ví dụ bên dưới). Dưới góc nhìn thời gian, sự phá vỡ tam giác nên xảy ra ở khoảng giữa và hai phần ba dọc theo khoảng cách từ đáy đến đỉnh, nghĩa là chiều cao của tam giác.
    Sự phá vỡ có thể xảy ra ở cả hai cạnh phía ngoài tam giác. Trong trường hợp tam giác cân theo xu hướng giá tăng, sự phá vỡ xảy ra cùng hướng với xu hướng giá tăng trước đó. Trong trường hợp tam giác cân theo xu hướng giá giảm, sự phá vỡ xảy ra cùng hướng với xu hướng giá giảm trước đó.
    Ví dụ về tam giác cân theo xu hướng giá tăng

    Cờ và cờ hiệu

    Hai mô hình giá tiếp diễn tương tự này thường xuất hiện ở khoảng giữa một lần biến động lớn của giá và chỉ đại diện cho các lần gián đoạn ngắn trong một thị trường luôn biến động. Các mô hình này có thể được xác định và phân biệt bằng hình dáng "cơ thể" của chúng; một hình chữ nhật hơi dốc so với xu hướng đối với trường hợp cờ, và một tam giác đối với trường hợp cờ hiệu.
    Cờ và cờ hiệu giống nhau về dạng và cách diễn giải. Cả hai đều đánh dấu một sự củng cố nhỏ trong hoạt động của giá mặc dù - để thật sự được xem là mô hình giá tiếp diễn - thì cần có dấu vết của một xu hướng trước đó.
    Cờ và cờ hiệu thường theo sau một sự tăng hoặc giảm mạnh theo hướng của xu hướng, giúp tạo ra hình "cột cờ" trên biểu đồ. Sự đột phá từ mô hình có thể cho thấy một sự thay đổi nhỏ về giá bằng với độ dài của cột cờ.

    Ví dụ về một Cờ theo xu hướng giá tăng : Khi có sự đột phá, sự thay đổi nhỏ của giá bằng với kích thước của cột cờ.

    FIBONACCI VÀ SÓNG ELLIOTT

    Lý thuyết Sóng - Elliott Wave Theory (EWT)

    Ralph Nelson Elliott đề cập đến ba khía cạnh quan trọng của sự vận động giá trong lý thuyết của mình: mô hình, tỉ lệ và thời gian. Mô hình chính là các mô hình sóng hoặc hình dạng sóng, trong khi đó tỉ lệ (mối liên hệ giữa các con số, đặc biệt là các dãy số Fibonacci) thì hữu ích đối việc đo sóng. Để sử dụng lý thuyết này trong kinh doanh mỗi ngày, người kinh doanh sẽ xác định dạng sóng chính, hoặc siêu sóng (supercycle), mua vào và sau đó bán ra hoặc bán và mua lại lúc giá hạ khi mô hình không còn dao động nhiều và sắp có sự đảo chiều.
    • Mô hình Năm-Sóng (Five-wave)
      Ở dạng cơ bản nhất của nó, Lý thuyết Sóng Elliott nêu rằng tất cả hoạt động của thị trường đều theo một nhịp lặp đi lặp lại của năm sóng theo hướng của xu hướng chính và theo sau đó là ba sóng lui (corrective wave) (một dạng vận động "5-3").
      Các sóng tới được xác định là 1-2-3-4-5 và các sóng lui là a-b-c. Trong chu kỳ sóng tới, các sóng 1, 3, và 5 là "sóng tới" và di chuyển theo hướng của xu hướng, trong khi các sóng 2 và 4 được gọi là "sóng lui". Sau đợt năm-sóng tới đã hoàn tất, một đợt ba-sóng lui bắt đầu được xác định là a-b-c. Trong chu kỳ sóng lui, các sóng  'a' và 'c' di chuyển theo hướng lui, trong khi sóng 'b' đi theo hướng ngược lại.
      Lưu ý: Trong biểu đồ nêu ở đây cho thấy khuynh hướng tăng và do đó các sóng tới đang di chuyển lên phía trên. Ở xu hướng giảm các sóng đi xuống được đề cập ở dạng 1-2-3-4-5, khi đó các sóng đi lên được gọi là a-b-c.

    • Bước sóng
      Khi một đợt lui ba-sóng hoàn tất, một đợt năm-sóng tới bắt đầu và cứ thế tiếp diễn, cho đến khi có sự đảo chiều xảy ra. Khi đó có thể thấy mỗi đợt năm-sóng tới có thể được xem như một sóng tới đơn lẻ. Tương tự như vậy, khi nhìn ở góc độ lớn hơn, và ngược lại, mỗi sóng có thể được chia thành các sóng nhỏ hơn.
      Lý thuyết Sóng Elliott phân loại các sóng theo độ dài chu kỳ, dao động từ một Siêu chu kỳ Lớn, kéo dài hàng thập kỷ; đến một mức độ cực nhỏ, chỉ kéo dài vài giờ đồng hồ. Tuy nhiên, chu kỳ tám-sóng vẫn là hằng số.
      Lưu ý: Hai sóng lớn nhất, ở đây là 1 và 2, có thể được chia nhỏ thành tám sóng nhỏ hơn và đến lượt các sóng này lại được chia nhỏ thành 34 sóng nhỏ hơn nữa. Hai sóng lớn nhất, 1 và 2, chỉ là hai sóng đầu tiên trong đợt năm-sóng tới lớn hơn. Sóng 3 của mức cao hơn kế tiếp sắp bắt đầu. 34 sóng tạo thành chu kỳ có thể được chia nhỏ hơn nữa ở mức nhỏ nhất kế tiếp thành 144 sóng.

    Phân tích Fibonacci

    Các số Fibonacci cung cấp nền tảng toán học cho Lý thuyết Sóng Elliott. Trong khi các tỉ lệ Fibonacci đã được điều chỉnh cho nhiều chỉ số kỹ thuật khác nhau, chức năng lớn nhất của chúng trong phân tích kỹ thuật vẫn là đo các sóng lui.
    • Đặc tính của các dãy số Fibonacci
      Trình tự số Fibonacci được thiết lập chỉ đơn giản bằng cách bắt đầu ở 1 và cộng số trước đó để có số mới:
      0+1=1, 1+1=2, 2+1=3, 3+2=5, 5+3=8, 8+5=13, 13+8=21, 21+13=34, 34+21=55, 55+34=89,…
      Dãy số này có rất nhiều đặc tính thú vị:
      + Tỉ lệ của bất kì số nào so với số kế tiếp trong dãy cũng đều bằng 0.618 hoặc 61.8% (tỉ lệ vàng) sau 4 số đầu tiên. Ví dụ: 34/55 = 0.618
      + Tỉ lệ của bất kì số nào so với số xuất hiện sau nó hai vị trí đều bằng 0.382 hoặc 38.2%. Ví dụ: 34/89 = 0.382
      + Tỉ lệ của bất kì số nào so với số xuất hiện sau nó ba vị trí đều bằng 0.236 hoặc 23.6%. Ví dụ: 21/89 = 0.236
      Các mối quan hệ này giữa mỗi số trong dãy là nền tảng của nhiều tỉ lệ phổ biến được sử dụng để xác định sự thoái lui của giá và sự mở rộng của giá trong một xu hướng.

    • Sự thoái lui về giá Fibonacci
      Một sự thoái lui là sự vận động của giá "quay ngược lại" một phần của đợt vận động trước đó. Thông thường một cổ phiếu sẽ thoái lui theo một trong 3 cấp Fibonacci phổ biến như sau - 38.2%, 50%, và 61.8%. Sự thoái lui về giá Fibonacci được xác định từ một đợt tăng từ thấp-lên-cao trước đó để chỉ ra các cấp hỗ trợ khả thi khi thị trường đi giật lùi từ một mức giá cao.
      Sự thoái lui cũng đi từ một đợt giảm từ cao-xuống-thấp trước đó theo cùng tỉ lệ, và tìm các cấp hỗ trợ khả thi khi thị trường tăng lại từ một mức giá thấp.
    • Sự mở rộng về giá Fibonacci
      Sự mở rộng về giá Fibonacci được các nhà kinh doanh sử dụng để xác định các vùng mà họ mong muốn chốt lời ở giai đoạn kế tiếp của một xu hướng giá tăng hoặc giá giảm. Các mức mở rộng theo phần trăm được biểu diễn bằng các đường nằm ngang phía trên/phía dưới của đợt dịch chuyển trong xu hướng trước đó. Các mức mở rộng phổ biến nhất là 61.8%, 100.0%, 138.2% và 161.8%.

    • Lời khuyên  
      Trong thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra mô hình sóng Elliot đúng, hoặc giá cũng không luôn hoạt động chính xác theo mô hình này. Do đó, lời khuyên cho các nhà kinh doanh là đừng chỉ dựa vào các tỉ lệ Fibonacci, nhưng nên sử dụng chúng kết hợp với các công cụ kỹ thuật khác.
      (SOURCE: MARKETS)

Ý nghĩa của thông tin kinh tế được công bố



Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đồng tiền của một quốc gia, sự tăng hay giảm tỉ giá đồng tiền phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế. Dưới đây là những thông tin kinh tế đáng chú ý để đánh giá và dự đoán tỉ giá.

VIỆC LÀM

Các báo cáo về tình trạng thất nghiệp:
Được công bố hàng tuần, chí số này cho biết có bao nhiêu người đang xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tiên. Số lượng người càng ít cho dấu hiệu nền kinh tế đang có dấu hiệu tốt, bởi vì những người thất nghiệp thì thường có xu hướng chi tiêu ít hơn, điều này có tác động xấu đến nền kinh tế của quốc gia.
Bảng lương phi nông nghiệp:
Được công bố hàng tháng cho biết số lượng các công việc mới được tạo ra (ngoài lĩnh vực nông nghiệp). Số lượng công việc càng nhiều thì đồng tiền của quốc gia càng mạnh, bởi vì càng nhiều người có việc làm thì họ kiếm được nhiều tiền hơn và họ sẽ chi tiêu nhiều hơn.
TIÊU DÙNG:
Chỉ số tiêu dùng cá nhân:
Cho thấy mức độ lạm phát mà mọi người phải gánh chịu, nó phản ảnh sự thay đổi trong giá cả của các mặt hàng tiêu dùng và các dịch vụ (không bao gồm thực phẩm và năng lượng). Những biến động lớn về giá cả sẽ có tác động xấu lên nền kinh tế bởi vì nó thể hiện sự không ổn định và sự không ổn định này sẽ khiến cho người dân chi tiêu ít hơn.
Doanh số bán lẻ:
Được công bố 1 lần mỗi tháng, nó đo lường giá trị của doanh số bán lẻ. Sự gia tăng trong doanh số bán lẻ cũng đồng nghĩa là nền kinh tế quốc gia đang phát triển mạnh hơn, bởi vì nó cho thấy người dân đang chi tiêu nhiều hơn.
Tổng sản phẩm quốc nội GDP:
Được tổng kết hàng năm, thể hiện giá trị của tất cả các hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế của quốc gia sản xuất ra. Sự tăng lên của GDP cho thấy nền kinh tế của quốc gia đang phát triển mạnh hơn. Nó khuyến khích người dân đầu tư nhiều hơn vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu trong nước đồng thời cũng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Cán cân thương mại:
Thể hiện sự chênh lệch về giá trị của các hàng hoá dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu. Sự thặng dư trong cán cân thương mại có nghĩa là giá trị của các hàng hoá dịch vụ được xuất khẩu đang nhiều hơn nhập khẩu. Sự tăng lên trong cán cân thương mại cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên bởi vì khi nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn thì số lượng công ăn việc làm sẽ tăng lên và mức độ sản xuất gia tăng ở các nước xuất khẩu. Điều này cũng sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu nước ngoài sẽ phải đổi đồng tiền của họ sang đồng tiền của nước xuất khẩu để mua hàng.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI:
Chỉ số CPI đo lường sự gia tăng của giá cả trong một rổ hàng hoá và dịch vụ (như thực phẩm, vận tải, nhà ở, v.v…). Chỉ số CPI này tăng lên nghĩa là giá cả của rổ hàng hoá dịch vụ đó đã gia tăng và chúng ta phải tốn nhiều tiền hơn để mua một rổ hàng hoá dịch vụ tương tự. Sự tăng lên của chỉ số CPI sẽ có tác động tích cực lên nền kinh tế (và đương nhiên là đồng tiền của quốc gia) bởi vì nó cho thấy người ta có đủ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ mặc dù giá của chúng có gia tăng.

BẤT ĐỘNG SẢN:

Doanh số nhà mới:
Các số liệu về doanh số bán nhà mới là một chỉ số rất quan trọng cho thấy xu hướng chung của nền kinh tế. Sự tăng lên trong doanh số bán nhà mới cho thấy ngành xây dựng đang phát triển rất tốt và người tiêu dùng có đủ tiền để mua những tài sản có giá trị lớn. Những người mua nhà này sẽ mua thêm nhiều hàng hoá khác, cùng lúc đó thì các công ty xây dựng cũng cần phải thuê công nhân và mua vật liệu, vì vậy nó tạo nên một tác động, một làn sóng tích cực cho nền kinh tế và thúc đẩy sự tăng giá của đồng tiền.
Doanh số nhà chờ bán:
Đo lường hoạt động của doanh số bán nhà hiện tại. Nó bao gồm nhà của các gia đình riêng lẻ, chung cư. Nhu cầu mua nhà càng tăng chứng tỏ nền kinh tế đang phát triển tốt bởi vì người dân cảm thấy rất thoải mái và sẵn sàn đầu tư vào nhà ở. Ngoài ra, việc đầu tư này cũng thường kéo theo các hoạt động mua hàng khác như các thiết bị điện, tủ bàn ghế … sẽ mang lại thu nhập cho những nhà kinh doanh bất động sản, tất cả những điều này đều rất tốt cho nền kinh tế. 
Chỉ số nhà xây mới:
Cho biết số lượng các cao ốc đang được xây dựng. Con số này càng cao thì giá trị của đồng tiền của quốc gia cũng cao bởi vì nó cho thấy ngành xây dựng đang phát triển tốt và nhiều người đang đầu tư vào lĩnh vực này.
SẢN XUÂT:

Chỉ số sản xuất ISM:
Đo lường hoạt động thu mua trong khu vực sản xuất. Sự tăng lên của ISM cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên. Các chỉ số thể hiện hoạt động thu mua này là những chỉ số tốt bởi vì chúng đánh giá tình hình hoạt động của một công ty, thường đi đôi với những biểu hiện toàn diện của nền kinh tế.
Sản xuất công nghiệp:
Đo lường giá trị của sản lượng đầu ra được sản xuất bởi các nhà máy, hầm mỏ. Sự tăng lên trong sản xuất công nghiệp cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên bởi vì giá trị của nó càng cao cho thấy số lượng lớn các sản phẩm đang được sản xuất và bán ra, vì thế người dân có thu nhập và sẵn sàng chi tiêu.
Chỉ số giá của các nhà sản xuất PPI:
Kiểm tra sự khác biệt trong giá bán hàng hoá và dịch vụ của các nhà sản xuất. Bởi vì các nhà sản xuất thường có xu hướng tăng giá bán lẻ khi các chi phí sản xuất gia tăng, PPI có thể được xem là một chỉ số biểu hiện sự lạm phát. PPI tăng lên sẽ khiến cho Ngân hàng Trung Ương cũng tăng lãi suất theo. Sự tụt giảm của PPI cho thấy giá cả đang giảm xuống và suy thoái kinh tế đang bắt đầu xuất hiện.
Các đơn hàng cho những hàng hoá sử dụng lâu bền:
Đo lường giá trị của các loại hàng hoá có vòng đời lâu hơn 3 năm, mà người tiêu dùng mua - được sản xuất ở thị trường nội địa. Chỉ số này giúp dự đoán xem các nhà sản xuất đang bận rộn đến mức nào bởi vì họ cần phải làm việc tích cực để đáp ứng kịp các đơn hàng. Vì thế, xu hướng tăng lên sẽ có tác động tích cực lên đồng tiền quốc gia.
LÃI SUẤT NGÂN HÀNG:

Công bố của ngân hàng trung ương Anh (BoE):
Uỷ ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương Anh thường tổ chức bỏ phiếu biểu quyết hàng tháng để đưa ra mức lãi suất của quốc gia trong ngắn hạn.

Công bố của Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB):
Ban quản lý của Ngân hàng Trung ương Châu Au thường bỏ phiếu biểu quyết hàng tháng để đưa ra mức lãi suất của cộng đồng này trong ngắn hạn.
Công bố của Cục dự trư Liên bang Mỹ (FED):
Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do của Fed thường bỏ phiếu biểu quyết 8 năm một lần.

Kết quả của các cuộc bỏ phiếu của (BoE; ECB hay FED) sẽ được công bố nhanh chóng. Nó thường đi kèm với một vài lời bình luận vắn tắt về tình hình kinh tế và các nhân tố tác động. Mức lãi suất thường được quyết định dựa trên tình hình lạm phát. Mục đích là để giữ cho giá cả ổn định, vì thế khi lạm phát tăng trên mức lãi suất của năm 2% thì các ngân hàng này thường cũng tăng lãi suất để kìm giá xuống. Mức lãi suất cao sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, làm gia tăng nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ để lấy nội tệ. Có thể nói rằng xu hướng gia tăng của lãi suất có tác động tích cực lên nền kinh tế của quốc gia.
Biên bản cuộc họp của FOMC

Biên bản cuộc họp của Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do sẽ giúp cho các thành viên đưa ra các chính sách và quyết định liên quan tới lãi suất.
KHẢO SÁT KINH TẾ:

Cuộc khảo sát của ZEW:
Sẽ giúp cung cấp các nhận định của các chuyên gia tài chính có đề cập tới xu hướng kinh tế trong thời gian tới cho cộng đồng chung Châu Âu. Sự khác biệt về số lượng nhà đầu tư hàng tháng sẽ giúp dự đoán được sự tăng trưởng của nền kinh tế là tăng hay giảm.
Chỉ số PMI của Chicago (Mỹ):
Thể hiện tình hình chung của môi trường kinh doanh ở Chicago. Tình hình thu mua hàng tháng sẽ trả lời cho cuộc khảo sát có liên quan đến hoạt động của tổ chức họ (nó cao hơn, bằng, hay thấp hơn so với tháng trước) các vấn đề về sản lượng đầu ra, tình hình thu mua, số lượng việc làm, số lượng hàng tồn kho, các đơn hàng và các chỉ số giá cả.
Quỹ ngân khố quốc tế TIC:
Theo dõi dòng chảy của dòng tiền của các quỹ ra và vào lãnh thổ nước Mỹ (trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu). Con số này sẽ được thể hiện theo mức triệu đôla, thể hiện sự chênh lệch giữa chi tiêu của nước Mỹ vào cổ phiếu của các công ty nước ngoài và cổ phiếu của các công ty Mỹ. Đây là chỉ số quan trọng của nền kinh tế Mỹ và giúp họ có cái nhìn thấu đáo về nhu cầu của nước ngoài vào các lĩnh vực đầu tư và đồng đôla Mỹ. Ví dụ, nếu Mỹ mua 10 tỷ đôla cổ phiếu của các công ty nước ngoài và các nhà đầu tư nước ngoài mua 30 tỷ đôla chứng khoán của các công ty Mỹ để đầu tư dài hạn, thì con số chênh lệch sẽ là 20 tỷ đôla.
Niềm tin tiêu dùng:
Đo lường thái độ của người tiêu dùng đối với các tình hình kinh tế, họ đánh giá như thế nào vào các triển vọng kinh tế trong tương lai. Con số cao sẽ thể hiện sự lạc quan của người tiêu dùng; có thể nói là người tiêu dùng đang rất lạc quan về các triển vọng phát triển kinh tế. Và kết quả là họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, điều này sẽ kích thích lại nền kinh tế. 
Mức độ nhạy cảm của người tiêu dùng:
Đo lường thái độ của người tiêu dùng cả về tình hình hiện tại và các kỳ vọng vào tương lai. Nó xuất phát từ kết quả của cuộc khảo sát trên 500 người hàng tháng của trường đại học Michigan. Mức độ nhạy cảm càng cao sẽ cho thấy mức chi tiêu dùng sẽ gia tăng, nó chiếm tới 2/3 nền kinh tế. 

CHÚ Ý:
Các thông tin kinh tế được công bố sẽ có ảnh hưởng tới giá thị trường khi có sự chênh lệch giữa số liệu kỳ vọng và số liệu thực tế được công bố. Có thể xem lịch thông tin ở địa chỉ @ http://www.forexfactory.com/calendar.php
Thị trường có những biến động đều đặn thì sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi các tin tức được công bố. Ngược lại, khi thị trường đi ngang, không có nhiều biến động thì khi tin được công bố sẽ có thể có nhiều biến động lớn.
Hãy lưu ý rằng thông tin kinh tế được công bố vẫn rất tiềm ẩn sự rủi ro.

Source: sưu tầm + cá nhân

LỊCH THÔNG TIN

GIAO LƯU HỌC HỎI TRỰC TIẾP